Tag:

杰森 | 京都的三个星期·一些进步和快乐

Jason | Ba tuần ở Kyoto - Một chút tiến bộ và niềm vui

Hôm nay rất vui vẻ: đã gửi tiền thuê nhà vào tài khoản của công ty quản lý nhà qua ATM.

Chỉ một việc nhỏ như vậy mà tôi rất vui, thứ nhất vì hệ thống đều bằng tiếng Nhật, tự mình hoàn thành khiến tôi rất hứng thú. Thứ hai là vì đã mở khóa thanh toán cho tổ chức, sau này có thể thanh toán cho các tổ chức khác. Tôi đã thử dùng dịch vụ quốc tế của China Merchants Bank, nhưng chỉ có thể thanh toán cho tài khoản cá nhân hoặc trường học.

Ban đầu tôi đến ATM của ngân hàng trung tâm Kyoto gần nhà, nhưng không thể gửi tiền mặt, chỉ có thể gửi qua thẻ. Sau đó tôi đạp xe ra ngân hàng cách đó 4 km, đó là con đường rất rộng ít gặp, qua một cầu vượt để qua đường, trên đường ít người, trời nắng gắt chiếu vào phòng ATM, kèm theo sự căng thẳng, một lúc sau mồ hôi ướt đẫm. Nhập các thông tin, cuối cùng gửi 40.000 yên, ATM trả lại 1.200 yên tiền lẻ, cảm giác phấn khích như thể tôi đã làm được điều quan trọng.

Trong một môi trường hoàn toàn xa lạ, thực sự là dễ trải nghiệm, cảm giác thành tựu, dù trong mắt người khác có thể không đáng kể. Cảm giác tự hoàn thành nhiệm vụ chưa biết thật sự tuyệt vời.

Hôm qua cũng rất vui: thi phần ngữ pháp tiếng Nhật trình độ (từ bài 5 đến 9) điểm tối đa, gồm 29 câu, và chỉ dùng một nửa thời gian.

Lúc mới đến Kyoto, vì chủ yếu tự học nghe, ít biết đọc hira và katakana, nên gần như không hiểu đề thi trong kỳ thi nhập học. Giờ tôi đã có thể đọc nhanh đề và giải đề.

Nghe có vẻ chỉ là một bước nhỏ thôi, nhưng thật sự rất vui.

Ví dụ, tôi bây giờ đã biết nơi mình sống là Sagano Arashiyama (さがあらしやま), con sông gần đó là Katsura River (かつらがわ), còn Kamo River (かもがわ). Nhờ biết chữ Hán, nên tôi thường bỏ qua cách đọc tiếng Nhật của chúng, khi người khác hỏi, tôi cũng không thể nói ra. Vì vậy, khi học tiếng Nhật, tôi cố gắng bỏ qua cách đọc chữ Hán, học như một người nước ngoài học kana.

Sau ba tuần, trình độ tiếng Nhật của tôi tiến bộ rất nhanh, có thể chọn lọc sử dụng tiếng Nhật để diễn đạt những câu đơn giản. Ban đầu chỉ nghĩ học trong ba tháng rồi thôi, chỉ xem như hành động tượng trưng, nhưng thực tế, giảng dạy trực tiếp của giáo viên Nhật rất hữu ích, dù họ hạn chế tiếng Anh, toàn bộ bằng tiếng Nhật, điều này dần dần có tác dụng. Thêm vào đó, các buổi thảo luận, thực hành đối thoại đều giúp ích rất nhiều.

Lớp của chúng tôi cũng rất thú vị, sau khi có 4 người chuyển trường, tổng cộng là 12 người, đến từ 10 quốc gia, gồm 3 người Trung Quốc, các nước Ý, Pháp, Canada, Anh, Mỹ, Mexico, Brazil, Nga, Malaysia, mỗi người một quốc tịch. Độ tuổi, lý do học khác nhau nhiều.

Tôi và cô gái người Phi pháp Sabrina là sinh viên ngắn hạn, nhưng cả hai đều học rất chăm chỉ. Tom muốn làm đầu bếp, nhưng so với nấu ăn, anh ấy thích làm đồ uống hơn. Chris, người Mỹ từ Carolina Nam, thích anime, mới tốt nghiệp cấp 3 và chuẩn bị thi vào đại học Nhật Bản. Những người khác thì chưa rõ lắm.

Một lý do khác khiến tôi tiến bộ nhanh là gần đây tôi luôn học theo Duolingo, rảnh rỗi thì làm bài tập, nhiều lúc mỏi mắt đến mức mở mắt không nổi, điều này mang lại niềm vui lớn. Trước đây tôi không nghĩ Duolingo có ích, nghĩ rằng không bằng học chính quy từ các lớp truyền thống. Thực ra tôi vẫn học như vậy, nhưng dần dần càng khó tiến bộ, cần phải tập trung cao độ mới bắt đầu được, phương pháp học nặng nề hơn, thời gian rảnh rỗi rất khó để bắt đầu.

直到两周前和来旅行的张晨一起吃了顿饭,他用日语点菜沟通很熟练,让我很吃惊。他说自己没有上课,就是刷多邻国,完整刷了一遍,现在换用英语刷。我回家就开始尝试使用,果然,很快就投入了,觉得很有帮助。就是以多邻国看起来简单反复的练习下,我就潜移默化记住了单词,之前是很容易忘记的。所以我的体会是,可以听语法讲解,但需要用多邻国的练习体系来巩固单词和句式的记忆,配合起来用。

学习日语,中文具有很大优势,能理解汉字,英语好也很有帮助,大量新词都是英语借用,甚至感觉不少于汉字,不会英语,只记这些片假名发音,也很困难。所以我应该会有一些优势来学好。

宿舍的人也慢慢都熟悉了。因为大部分不是学生,所以每个人都有自己的生活节奏,偶尔会在一楼的宿舍遇到,如果会在厨房做饭的话,更容易碰到。一般我,日本人耀士,德国人 Noah 和加拿大人 Travor 会做饭。我们遇到都会聊天,也会偶尔分享吃的和一些生活经验。Noah 是研究生,他的日语不错,还能读写汉字。

还有一个澳大利亚人 muni,看长相像印度裔,他说在日本打工旅行,已经在这里一年多了,学了一些日语,能勉强沟通。我们聊起中国制造业的崛起,他说:“日本以前造的东西也不行,慢慢才变好的,这是个必经的过程”。我说:“挺不错的,你挺了解历史的。” “是啊,我不相信那些媒体的说法”。

虽然说,这栋两层的小楼里住了九个人,但平时很安静,感觉不到有这么多人,似乎大家都在外面忙各自的事情,或者在房间里各做各的。

我的同学 X,却没有这么好运,那天学校有个老师来约他谈话。问他什么事,他说“我住进了印度人的宿舍,每天吵得睡不好。一楼的人大声喊三楼的人,七大姑八大姨的打电话,我都黑眼圈了,向学校投訴了老师,也没人理”。他又说“我跟学校说,要么退钱,要么换宿舍,否则我找律师告你们”。他在美国住了很多年,果然还是有美式思维。

昨晚我在屋外抽烟时,台湾姑娘 Ginny 在整理她房间里的垃圾,分类搬到屋外的大垃圾箱。打了招呼后,我们在那里聊了一会儿天。

“我这两天要搬了,准备去东京找工作”

“京都的工作机会少一些吗”

“京都大部分是服务业相关,我学的设计,想做本专业,找不到的话,就回台湾去。”

“你做什么方面的设计,之前在广告公司吗?”

“插画。不是广告公司,是公司的产品设计。”

“那你可以先找一份普通工作,然后慢慢再找吗”

Nếu tìm một công việc không cần trình độ chuyên môn, sẽ dễ hơn, có người sẽ chuyển tiếp trước. Chủ cửa hàng kimono tôi làm việc đã hỏi tôi có muốn làm ở đó không, tôi đã từ chối. Cô ấy còn muốn tôi học trong một năm, tôi nghĩ khi đến lúc đi nữa là không thích hợp.

Cô ấy tiếp tục nói: “Tuy nhiên, cuộc sống và học tập một năm ở Kyoto rất có ích, dù không tìm được việc trở về, tôi cũng rất hài lòng.”

Học cách sống và học tập đa văn hóa chắc chắn sẽ mang lại nhiều thu hoạch. Năm ở Kyoto của bạn tốn khoảng 50 vạn TWD phải không?

Không chỉ vậy, khoảng 70 vạn, sau khi gặp nhiều bạn bè hơn, tiền ăn uống, tụ họp, du lịch cũng nhiều hơn, tuy nhiên cũng đã đi tới nhiều nơi ở Nhật Bản.

Bạn làm phụ giúp cửa hàng kimono được bao nhiêu tiền?

Mỗi tháng giới hạn làm việc tối đa 28 tiếng, cửa hàng kimono có thể kiếm 10 vạn yên (¥5000) một tháng, nhưng đều đã tiêu hết rồi, chưa tính toán. Cảm ơn bố mẹ đã hỗ trợ tài chính cho tôi.

Ừ, liệu cha mẹ ở Đài Loan có thường xuyên muốn con cái có năng lực không?

Cũng xem xem, nếu họ sẵn lòng hỗ trợ tôi học tập, tôi rất cảm kích. Tôi tiếp tục đi thu dọn, còn khá nhiều đồ đạc.

Hoàng hôn gần nhà ở Thần Giác Sơn
Quán nhỏ mua cơm trưa
Mì Udon trên đường về nhà sau giờ tan học
Cửa hàng Udon do ông bà già mở
Cửa hàng hạt cà phê của một cặp vợ chồng khác
Cửa hàng bánh kẹo trên đường đến trường
Cửa hàng đậu phụ trên đường về nhà sau giờ học, đã mua nhiều lần
Quán café gần nhà, sau giờ tan học
Quay lại blog

Để lại bình luận